Chuyên đề: Thiết kế tủ gỗ công nghiệp: kích thước, ván, kệ, màu, chỗ ẩmPhần 5/6

Phối màu ván phủ: vân gỗ, màu trơn, chiều vân và ánh sáng

Phối vân gỗ với màu trơn, giữ chiều vân trên dãy cánh tủ, chọn chỉ cạnh, mặt mờ hay bóng, và xem mẫu ván dưới đúng ánh sáng của căn phòng sẽ lắp.

Mẫu ván sồi sáng chọn ở cửa hàng, dưới dãy đèn trắng, trông vàng nhạt và hợp với mặt đá xám. Ván về nhà, lắp dưới mấy bóng đèn vàng trong bếp, cùng tấm sồi ấy ngả sang màu cam, còn dải chỉ cạnh tưởng đồng màu lại sẫm hơn mặt cánh một chút. Mã ván vẫn đúng như đơn đặt, cái đổi là nguồn sáng chiếu lên nó.

Bài này thuộc chuyên đề thiết kế tủ gỗ công nghiệp. Chọn cốt và bề mặt cho từng bộ phận đã có ở bài tủ bếp gỗ công nghiệp nên dùng ván gì; bài này nói về phần nhìn thấy của mặt tủ.

Vân gỗ đặt cạnh màu trơn

Trang sản phẩm KES xếp mỗi mã ván phủ vào một dòng Hiệu ứng: Vân gỗ, Đơn sắc, Vân đá, Vân vải, Bê tông; Laminate Plus có thêm Bóng gương và Inox. Một bộ tủ hay ghép một mã vân gỗ với một mã đơn sắc.

Mã đơn sắc gần như là một màu. Mã vân gỗ thì không: thớ sáng, thớ tối, mắt gỗ nằm xen nhau. Với các mẫu vân gỗ, vân đá, hãng laminate Formica chỉ công bố một độ sáng trung bình đo ở nhiều điểm, và lưu ý rằng các màu bên trong một mẫu vân có thể chênh nhau hơn 30 điểm trên thang độ sáng 0–100. Vì vậy, mẫu màu trơn cần đặt so với cả thớ sáng lẫn thớ tối của vân, chứ không so với một màu trung bình.

Nhiều mã KES có ở nhiều bề mặt với cùng 5 chữ số, nên thùng Melamine và cánh Laminate có thể chung một mã màu; KES ghi nhóm Laminate GA là "màu cơ bản, đồng màu Melamine". Dù vậy, hai bề mặt cùng mã vẫn nên đặt cạnh nhau xem trước khi đặt hàng, vì như bài bảng màu của KES ghi, mỗi vật liệu "có nền và công nghệ sản xuất khác nhau".

Độ sáng tối đo bằng LRV

Độ sáng tối của một màu được đo bằng chỉ số phản xạ ánh sáng LRV (light reflectance value), thang từ 0 là đen, hấp thụ hết ánh sáng, đến 100 là trắng, phản xạ hết. Bảng LRV của EGGER cho thấy khoảng cách ấy trên ván phủ thật: Premium White W1000 ST9 là 84, vân sồi Natural Hamilton Oak H3303 ST10 là 30, Black U999 PM là 2. proHPL, nhóm chuyên môn về laminate HPL ở Đức, tính đại lượng tương tự (Hellbezugswert) từ độ sáng L* đo bằng máy đo màu.

Quy chuẩn xây dựng của Anh (Approved Document M) và hướng dẫn Project Rainbow của Đại học Reading coi hai bề mặt là tương phản khi LRV chênh nhau trên 30 điểm, để người thị lực kém phân biệt được chúng. Trong bếp, mốc 30 điểm có ích ở những chỗ cần nhìn ra ngay, như tay nắm hay mép mặt bàn trên nền tủ. Thùng tủ với cánh thì chênh ít hay nhiều tùy người thiết kế muốn bộ tủ liền một khối hay chia mảng.

KES chưa công bố LRV cho các mã ván phủ. Muốn có con số thì phải đo mẫu bằng máy quang phổ; proHPL ghi rõ đo màu bằng điện thoại không đạt độ chính xác đó.

Chiều vân trên cánh và mặt ngăn kéo

Một cánh đặt lệch hướng vân trong cả dãy là thứ mắt nhận ra ngay. Bộ tiêu chuẩn đồ gỗ kiến trúc của Mỹ và Canada (AWS, do AWI, AWMAC và WI soạn) chia việc xếp vân trên mặt tủ thành ba cấp.

  • Cấp Economy: cánh chạy dọc; mặt ngăn kéo chạy dọc hoặc ngang tùy xưởng, nhưng phải giống nhau trong cả công trình; vân không cần khớp.
  • Cấp Custom: cánh, mặt ngăn kéo và mặt giả chạy dọc và khớp vân theo chiều đứng trong từng tủ.
  • Cấp Premium: xếp nối tiếp cả theo chiều ngang trong từng tủ, các mặt trên cùng một dãy khớp màu và vân. Nối vân giữa các tủ khác nhau phải ghi riêng trong hồ sơ.
Cùng một tủ dưới, ba ngăn kéo và một cánh, xếp vân theo ba cấp của tiêu chuẩn AWS. Càng lên cấp cao, vân càng phải cùng hướng và nối liền giữa các mặt, nên phải cắt các mặt liền nhau từ một tấm và đánh số. Không theo tỷ lệ.

AWS viết cho veneer và laminate, nhưng cách xếp ấy dùng được cho Melamine vân gỗ. Muốn ba mặt ngăn kéo nối vân, phải cắt chúng liền nhau từ một dải ván, đánh số và lắp đúng thứ tự.

Giấy vân gỗ in bằng trục lặp lại họa tiết sau mỗi vòng trục, khoảng 1,4 m, nên trên một bộ tủ lớn, cùng một mắt gỗ có thể xuất hiện ở hai cánh đứng gần nhau (xem bài giấy trang trí in vân gỗ). Xếp thử các tấm trước khi cắt để đẩy hai chỗ trùng ra xa nhau.

Một tủ cao phủ gỗ màu nâu vàng với bốn cánh, hai cánh trên và hai cánh dưới, tay nắm thép dài đặt dọc. Vân gỗ trên cả bốn cánh chạy thẳng đứng. Bên phải là hộc rượu ô vuông, lò vi sóng và mặt bàn trắng.
Bốn cánh của một tủ cao, vân chạy dọc trên cả bốn, cánh trên và cánh dưới cùng một hướng. Tủ trong ảnh phủ gỗ, không phải ván Melamine KES, nhưng cách xếp vân thì giống. Ảnh: Peter Alfred Hess, Flickr, CC BY 2.0.

Mũi tên chiều vân trên bản cắt

OpenCutList, phần mềm xếp hình cắt chạy trong SketchUp, chỉ xoay chi tiết 90° cho khít với vật liệu không có vân, và mặc định vân chạy theo chiều dài tấm. Tấm có vân chạy theo chiều ngang khổ thì phải đổi chiều dài và chiều rộng lúc nhập.

Trang sản phẩm KES không ghi hướng vân, nên trước khi lên bản cắt cần nhìn tấm thật hoặc hỏi kho. Mặt đơn sắc có kết cấu cũng có thể có hướng: Fundermax ghi bề mặt Aptico của họ "có hướng" và dặn chú ý khi gia công.

Khóa hướng vân thường làm tốn ván hơn; cách tính số tấm khi đó có trong bài kích thước tấm ván và cách tính số tấm.

Chỉ dán cạnh cùng màu với mặt ván

Mã chỉ lấy từ dòng Chỉ đồng màu trên trang sản phẩm KES. Đa số là PVC cộng đúng mã màu của tấm, nhưng có ngoại lệ như S6 29323T đi với PVC 29418 (các trường hợp khác ở bài đọc mã màu ván phủ KES; độ dày, bản rộng ở bài chỉ dán cạnh PVC).

Chỉ PVC và mặt Melamine là hai vật liệu nhuộm màu khác nhau, nên dễ gặp metamerism: hai mẫu khớp màu dưới đèn này mà lệch dưới đèn khác (định nghĩa của X-Rite). Xin mẫu chỉ cùng lúc với mẫu ván và xem chúng cạnh nhau. Ảnh dưới cho thấy hiện tượng này trên hai tấm sơn màu cam.

Ba ảnh chụp cùng một cặp tấm sơn tĩnh điện màu cam, tấm nhỏ đặt chồng lên phần dưới tấm lớn, dưới ba nguồn sáng ghi D65, A và TL84. Dưới D65 hai tấm gần như cùng màu. Dưới nguồn sáng A tấm lớn ngả đỏ hơn hẳn tấm nhỏ. Dưới TL84 hai tấm chênh nhau ít hơn.
Metamerism thấy bằng mắt: hai tấm sơn tĩnh điện pha bột màu khác nhau, chụp dưới ba nguồn sáng chuẩn. Dưới D65 gần như một màu, dưới nguồn sáng A (đèn sợi đốt) tấm lớn đỏ hẳn lên. Mẫu ván và chỉ cạnh có thể lệch nhau theo cùng cách. Ảnh: Toto 601, Wikimedia Commons, CC0.

Mặt mờ, mặt sần, mặt bóng

Mặt nhẵn phản chiếu ánh sáng về một hướng như gương nên trông bóng; mặt nhám làm ánh sáng tỏa đi mọi hướng nên trông mờ. Độ bóng đo bằng máy đo độ bóng theo EN ISO 2813, đơn vị là GU (gloss unit): mặt mờ đo ở góc 85°, mặt bóng cao đo ở góc 20°, còn lại đo ở 60°. Theo EN 438, laminate trên 70 GU là bóng cao, 30–70 là bán bóng, 10–30 là bán mờ, dưới 10 là mờ. Số đo của mặt có kết cấu chỉ đem so với mặt cùng kết cấu.

Vì vậy bề mặt đổi thì cùng một mã màu cũng trông khác: trên mặt sần, chỗ hứng đèn sáng lên, chỗ khuất sẫm đi. Mặt bóng còn soi ảnh đèn và cửa sổ, nên cánh tủ sáng loáng ở góc này mà sẫm ở góc khác.

Màu sẫm để lộ dấu dùng rõ hơn: EGGER ghi vết dùng hằng ngày trên màu trơn sẫm và vân gỗ sẫm dễ thấy hơn trên màu sáng, còn Fundermax ghi mặt rất sần hoặc mờ sâu có thể bóng lên từng mảng ở chỗ hay đặt bát đĩa, rõ nhất với màu sẫm. Độ bền của từng bề mặt có trong bài Melamine, Laminate hay Acrylic.

Xem mẫu dưới ánh sáng của căn phòng

Đèn trắng cũng mỗi loại một sắc. Nhiệt độ màu, đo bằng kelvin (K), cho biết ánh sáng ngả vàng hay ngả xanh: số càng thấp càng vàng. Tiêu chuẩn chiếu sáng nơi làm việc EN 12464-1 chia đèn thành ba nhóm: ấm dưới 3.300 K, trung tính 3.300–5.300 K, lạnh trên 5.300 K.

Phòng thí nghiệm so màu dưới các nguồn sáng chuẩn do Ủy ban Quốc tế về Chiếu sáng (CIE) định nghĩa. Nguồn sáng A đại diện cho đèn sợi đốt, khoảng 2.850 K. D65 đại diện cho ánh sáng ban ngày trung bình, khoảng 6.500 K. D50, khoảng 5.000 K, là một dạng ánh sáng ban ngày khác.

Trên: thang nhiệt độ màu với ba nhóm ánh sáng của EN 12464-1 và các nguồn sáng chuẩn của CIE. Dưới: mặt ván và chỉ cạnh làm từ hai vật liệu khác nhau có thể khớp màu dưới ánh sáng ban ngày mà lệch dưới đèn vàng; hiện tượng này gọi là metamerism. Màu trong hình chỉ để minh họa.

Khi soi bề mặt laminate, EN 438 đặt tấm nằm ngang dưới ánh sáng khuếch tán 1.200 ± 400 lx, ánh sáng ban ngày hoặc đèn tương đương từ D50 đến D65, xem thêm dưới nguồn sáng A, người xem đứng cách 0,75–1,5 m. Ở nhà không có buồng đèn, nhưng làm theo được: xem mẫu một lần cạnh cửa sổ ban ngày, một lần dưới đèn của chính căn phòng.

Nguồn sáng A
2.850K
Ánh sáng đèn sợi đốt theo CIE, ngả vàng.
Nguồn sáng D65
6.500K
Ánh sáng ban ngày trung bình theo CIE.
Độ rọi khi soi mặt laminate
1.200lx
Mức EN 438 dùng khi xem bề mặt HPL, cho phép ±400 lx.

Hai bóng đèn cùng nhiệt độ màu vẫn có thể cho màu ván khác nhau, vì khác chỉ số hoàn màu CRI, ký hiệu Ra, cao nhất là 100. Ra tính theo CIE 13.3 từ tám mẫu màu nhạt; màu đỏ đậm (mẫu R9) không nằm trong đó, nên ERCO, hãng đèn của Đức, ghi thêm R9. Vân gỗ nâu đỏ có nhiều sắc đỏ, nên R9 đáng xem cùng Ra. EN 12464-1 khuyên không dùng đèn có Ra dưới 80 trong phòng có người làm việc hay ở lâu.

X-Rite, hãng làm thiết bị đo màu, khuyên đặt các mẫu chạm sát nhau, vì một khe hở nhỏ cũng đánh lừa mắt, rồi đổi chỗ trái phải, trên dưới xem màu có đổi không.

Mẫu nhỏ và mảng tường tủ lớn

Phủ lên cả một mảng tủ, màu trông sáng hơn và đậm hơn trên mẫu nhỏ; báo cáo CIE 208:2014 ghi nhận xu hướng này trong thí nghiệm. Mẫu vân gỗ nhỏ còn không chứa hết một vòng lặp của họa tiết, nên không cho thấy mắt gỗ to sẽ xuất hiện bao nhiêu lần trên cả dãy cánh.

Màu còn lệch nhẹ giữa các lô. EGGER cho phép chênh màu và bề mặt ở mức cấp 4 theo EN 14323 giữa mẫu chuẩn của hãng và tấm thực tế, và khuyên các chi tiết đứng cạnh nhau nên lấy cùng một lô sản xuất. KES chưa công bố mức chênh cho phép giữa hai lô ván phủ, nên một bộ tủ nên đặt đủ ván một lần.

Câu hỏi thường gặp

Vân gỗ cánh tủ nên chạy dọc hay ngang?

Theo AWS, cánh luôn chạy dọc; mặt ngăn kéo chạy dọc hoặc ngang tùy thiết kế, miễn cả công trình giống nhau. Ở cấp cao hơn, mọi mặt chạy dọc và vân nối liền giữa các mặt trong một tủ.

Vì sao màu ván ở nhà khác với mẫu ở cửa hàng?

Thường do đèn khác: đèn vàng làm vân gỗ ngả cam, đèn Ra thấp cho màu kém trung thực hơn. Mảng tủ lớn cũng trông sáng hơn mẫu nhỏ.

Chỉ dán cạnh có cần cùng mã với ván không?

Có, lấy đúng mã ở dòng Chỉ đồng màu của sản phẩm, có khi mang số khác mã tấm.

Các mã có trong mục Melamine (654 mã), Laminate (111 mã) và Acrylic (15 mã); Tra mã lọc được theo vân và bề mặt. Phần tiếp theo của chuyên đề bàn về nội thất cho không gian ẩm.

Nguồn tham khảo

  1. AWI, AWMAC, WI, Architectural Woodwork Standards 2nd ed. (2014), Section 10 Casework
  2. proHPL, Visuelles Erscheinungsbild von HPL-Oberflächen (5/2023)
  3. ISO/CIE 11664-2:2022, Colorimetry, Part 2, CIE standard illuminants (tóm tắt)
  4. CIE 13.3-1995, Method of measuring and specifying colour rendering properties of light sources
  5. CIE 208:2014, Effect of stimulus size on colour appearance
  6. CEN, EN 12464-1:2002 Chiếu sáng nơi làm việc trong nhà (bản xem trước SIST EN 12464-1:2004)
  7. ERCO, LED colour rendering
  8. X-Rite, 10 Tips for Visually Evaluating Color
  9. X-Rite, What is metamerism
  10. Formica Group, A guide to LRV in interior design
  11. Gradus, LRV Guidelines (dẫn Approved Document M và Project Rainbow)
  12. EGGER, bảng LRV Decorative Collection (04.2025, bản do ForestOne đăng)
  13. Wikimedia Commons, Metamerie.jpg (Toto 601, CC0)
  14. EGGER, phiếu kỹ thuật Eurodekor (2021)
  15. EGGER, phiếu kỹ thuật và hướng dẫn vệ sinh bề mặt (bản Bắc Mỹ)
  16. Fundermax, Max HPL & Aptico, hướng dẫn kỹ thuật
  17. OpenCutList, sơ đồ cắt ván tấm
  18. KES Group, Bảng màu gỗ công nghiệp: mã màu Melamine, Laminate, Acrylic (17.07.2026)

Đọc tiếp