Mặt ván bị cọ xát hằng ngày: kéo đồ, trượt đĩa, lau chùi. Để biết lớp mặt của ván phủ Melamine hay Laminate chịu được đến đâu, phòng thử dùng máy mài Taber. Mẫu ván quay tròn dưới hai bánh xe bọc giấy nhám, và kết quả là số vòng quay đến lúc lớp trang trí bắt đầu mòn thấy được. Mốc đó gọi là điểm IP.
Dòng này dễ gây nhầm nhất khi đặt cạnh bảng thông số sàn gỗ: sàn ghi hàng nghìn vòng, mặt tủ chỉ vài chục đến vài trăm vòng, dù cả hai cùng mài trên một kiểu máy. Hai con số đó nằm trên hai thang khác nhau. Bài trước trong chuyên đề thông số bề mặt ván phủ Melamine, Laminate nói về chống trầy, tức vết do một vật nhọn kéo qua một lần; mài mòn là lớp mặt hao dần đi vì cọ xát lặp lại hằng ngày.
Máy mài Taber làm gì
Máy kẹp một mẫu ván phẳng lên bàn xoay, hạ hai bánh mài xuống mặt mẫu rồi cho bàn quay. Ảnh dưới là máy Taber trong phòng thử của KES.

Một lần thử diễn ra như sau:
- Mẫu phẳng cỡ khoảng 100 mm, vuông hoặc tròn, được kẹp lên một bàn xoay quay quanh trục đứng với tốc độ cố định.
- Hai bánh mài hạ xuống mặt mẫu với một áp lực quy định. Khi bàn xoay, mẫu kéo hai bánh quay theo hai chiều ngược nhau: một bánh chà ra phía mép, bánh kia chà vào phía tâm.
- Vết mài là một vành tròn gồm những cung chéo nhau, rộng khoảng 30 cm², nên mặt mẫu bị mài theo mọi hướng so với vân. Một ống hút lấy bụi mài ra trong lúc thử.
Tốc độ quay, loại giấy nhám và lúc thay giấy đều được quy định. Người thử đếm số vòng đến điểm IP (initial point), tức lúc vết mòn đã thấy được ở mức tiêu chuẩn quy định.
Với mặt đồ nội thất, mục 10 của EN 438-2 đặt ra phép thử này để mô phỏng sự cọ xát của đồ vật trong sử dụng hằng ngày.
Các mức trên bảng thông số
Ván phủ melamine chia cấp theo EN 14322. Cột bên phải là loại mẫu thường đạt cấp đó, theo EGGER.
| Cấp | Số vòng IP | Mẫu nào thường đạt (theo EGGER) |
|---|---|---|
| 1 | dưới 50 | Mẫu in vân, kể cả mẫu ánh nhũ |
| 2 | từ 50 | |
| 3A | từ 150 | Mẫu in vân có lớp phủ trong (overlay); mẫu màu trơn giấy dưới 120 g/m² |
| 3B | từ 250 | Mẫu màu trơn giấy từ 120 g/m² |
| 4 | từ 350 |
Cấp đạt được tùy cấu tạo lớp mặt. Dòng ván có overlay của EGGER được giới thiệu cho chi tiết cần chịu mòn cao hơn, như bàn làm việc và mặt bàn chuyên dụng.
Tấm HPL theo EN 438-2 mục 10 có hai mức tiêu chuẩn, theo Fundermax. Loại HGS, HGP dùng thường cho mặt ngang phải đạt từ 150 vòng. Loại HDS dùng nặng cho mặt ngang phải đạt từ 350 vòng. Giá trị điển hình hãng đo được cho tấm Max HPL là từ 185 vòng.
- HPL loại HGS, HGP
- 150vòng
- Mức tiêu chuẩn cho mặt ngang dùng thường, theo EN 438-2.
- HPL loại HDS
- 350vòng
- Mức tiêu chuẩn cho mặt ngang dùng nặng.
- Max HPL của Fundermax
- 185vòng
- Giá trị điển hình hãng đo được, từ 185 vòng trở lên.
KES ghi cho ván Melamine Series 9 độ kháng mài mòn 40–100 vòng theo EN 438-2. Catalogue không nói đây là số vòng đến IP hay một mốc khác. Nếu là IP, dải này nằm quanh ranh giới cấp 1 và cấp 2 của bảng trên, tức mức của mẫu in vân không có overlay.
Mặt tủ và mặt sàn: hai thang khác nhau
Sàn gỗ công nghiệp cũng thử bằng máy Taber, nhưng theo EN 13329, và xếp cấp AC. Theo bảng của Kastamonu, AC3 cần từ 2.000 vòng, AC4 từ 4.000 vòng. Chi tiết về các cấp AC có trong bài sàn gỗ công nghiệp AC3, AC4, AC5.
Nhìn 150 vòng của HPL bên cạnh 2.000 vòng của sàn AC3, dễ nghĩ sàn bền hơn mặt bàn hơn mười lần. Thực ra mục 11 dùng cùng bộ máy với mục 10 nhưng khác quy trình và khác kết quả, nên kết quả của hai phương pháp không so với nhau được, và mỗi con số chỉ dùng để xếp hạng trong thang của nó.
Đọc số vòng mài cho đúng
Số vòng IP cho biết lớp mặt chịu được bao nhiêu cọ xát trước khi vân in bắt đầu mờ. Nó hữu ích để xếp các bề mặt theo cùng một phép thử: mặt ván có overlay chịu mòn hơn mặt chỉ có giấy in, HPL loại HDS chịu mòn hơn HGS.
Số vòng không quy đổi ra số năm dùng. Không nguồn nào trong bài đổi số vòng ra thời gian dùng của một mặt tủ hay mặt bàn.
Vết bóng cũng nằm ngoài phép thử. Theo Fundermax, mặt ngang vân sâu hoặc mờ sâu có thể bóng lên thành mảng khi đĩa, ly, cốc trượt qua lại nhiều lần, dễ thấy nhất trên màu tối; bài chống trầy xước bề mặt ván phủ nói thêm về vết này. Đó là kiểu mòn khác với vết mòn lộ lớp in mà máy Taber đo.
Thứ hạng trong phòng thử cũng không phải lúc nào cũng giữ nguyên ngoài thực tế, như thử nghiệm sàn laminate dưới đây.
Với sàn laminate, mặt vân sâu cho kết quả thấp hơn mặt phẳng trong phép thử giấy nhám. Nhưng sau hai năm thử ở vũ trường, xưởng sản xuất và nhà ăn, hai loại không mòn khác nhau rõ.
Mặt đứng, mặt ngang
Với mặt đứng như cánh tủ áo, vách tủ, mặt bên, cọ xát ít, nên cấp mài mòn ít khi quyết định chọn ván. Khác biệt lộ ra ở mặt ngang hay bị cọ: mặt bàn, mặt quầy, đợt kệ thường xuyên kéo đồ. Ở đó, mặt melamine in vân không overlay (cấp 1) và HPL loại HGS (từ 150 vòng) cách nhau rõ trên giấy. Melamine có overlay đứng ở giữa.
Gợi ý chọn bề mặt cho từng vị trí trong tủ bếp có trong bài tủ bếp gỗ công nghiệp nên dùng ván gì. Lớp overlay được làm ra thế nào có trong bài tẩm keo melamine và overlay.
Câu hỏi thường gặp
Cấp AC3, AC4 có dùng cho ván làm tủ không?
Không. AC là cấp của sàn theo EN 13329. Ván phủ melamine làm tủ xếp cấp 1 đến 4 theo EN 14322, HPL làm mặt bàn xếp theo EN 438. Ba thang đo không đổi qua lại được.
40–100 vòng của KES Series 9 là cao hay thấp?
Nếu là số vòng đến IP, dải này tương đương cấp 1 đến cấp 2 của ván phủ melamine; cấp 1 là mức EGGER ghi cho mẫu in vân không có overlay. Mặt đứng của tủ ít bị cọ xát; mặt ngang hay bị kéo đồ nên cân nhắc bề mặt chịu mòn cao hơn.
Ván Melamine làm mặt bàn có bị mòn không?
Mặt melamine in vân không có overlay thường ở cấp mài mòn 1, dưới 50 vòng Taber theo cách EGGER phân cấp. Bàn làm việc, mặt bàn hay bị kéo đồ nên chọn ván có overlay hoặc Laminate.
Nguồn tham khảo
- Taber Industries, máy mài Taber (Rotary Platform Abraser)
- EPLF, Laminate A-Z (phép thử Taber, điểm IP)
- proHPL, tổng quan các phép thử trong EN 438-2:2016 (2017)
- EGGER, phiếu kỹ thuật Eurodekor (2021)
- Fundermax, Max HPL & Aptico, hướng dẫn kỹ thuật
- KES Group, catalogue Melamine Series 9, trang tiêu chuẩn kỹ thuật
- Kastamonu Entegre, bảng cấp sử dụng sàn Floorpan
- EPLF, thử nghiệm mài mòn bề mặt vân sâu (2016)