Chuyên đề: Thiết kế tủ gỗ công nghiệp: kích thước, ván, kệ, màu, chỗ ẩmPhần 1/6

Kích thước tiêu chuẩn tủ bếp: mặt bếp, tủ trên, tam giác bếp

Chiều cao mặt bếp theo EN 1116 và theo khuỷu tay người dùng, chân tủ, chiều sâu, khoảng hở đến tủ trên, tủ cao, tam giác bếp và lối đi giữa hai dãy tủ.

Một người cao 1m50 đứng thái rau trên mặt bếp 90 cm phải nhấc vai lên mới đưa dao xuống được, nấu xong một bữa là mỏi gáy. Người chồng cao 1m75 đứng ở mặt bếp 81 cm lại phải còng lưng khi rửa bát. Tài liệu nào đó đều ghi hai chiều cao ấy là "tiêu chuẩn", nhưng mỗi chiều cao chỉ vừa với một trong hai người.

Bài này là phần 1 của chuyên đề thiết kế tủ gỗ công nghiệp, đi từ sàn lên đến tủ trên, rồi sang mặt bằng bếp.

Mặt bếp cao bao nhiêu theo tiêu chuẩn

EN 1116 là tiêu chuẩn châu Âu về kích thước phối hợp giữa tủ bếp và thiết bị bếp, để máy rửa bát, lò nướng hay chậu rửa của hãng này lắp vừa tủ của hãng kia. Chiều cao mặt bếp đo từ sàn đến mặt trên, và tiêu chuẩn cho ba mức để chọn theo người dùng: 850, 900 và 950 mm, mỗi mức được cao thêm tối đa 50 mm. Mặt bếp nâng hạ được thì nằm ngoài quy định này; người khuyết tật cũng có thể cần kích thước khác.

Các trang thiết kế tủ bếp trong nước hay ghi mặt bếp 81–86 cm, nửa dưới của khoảng này thấp hơn mức 850 mm của EN 1116. Tiêu chuẩn châu Âu đặt mức thấp nhất cho người dùng châu Âu, còn người Việt trung bình thấp hơn, nên con số trong nước vẫn có lý, như phép tính theo khuỷu tay ở phần sau.

Mặt bếp thấp nhất trong EN 1116
850mm
Hai mức còn lại là 900 và 950 mm, mỗi mức cho phép cao thêm tới 50 mm.
Từ mặt bếp đến đáy tủ trên
450mm
Khoảng hở tối thiểu theo EN 1116.
Lối đi cho một người nấu
1.067mm
Mức NKBA khuyên, đo giữa hai mép mặt bếp hay thiết bị đối diện.
Các mốc EN 1116 trên một mặt cắt dãy bếp, vẽ theo tỷ lệ: mặt bếp 850 mm (hai vạch đứt phía trên là 900 và 950 mm), tủ trên treo cách mặt bếp ít nhất 450 mm, tủ trên sâu 310–400 mm, mặt bếp sâu ít nhất 600 mm, chân tủ ít nhất 80 mm. Người đứng trước cao 156 cm; khuỷu tay vẽ theo ước tính của bài, không phải số đo công bố.

Tính chiều cao mặt bếp theo khuỷu tay

Người nấu chính đi dép trong nhà, đứng thẳng, cánh tay buông dọc thân, gập khuỷu tay vuông góc. Đo từ sàn lên mặt dưới khuỷu tay. Mặt bếp thoải mái thấp hơn số đó khoảng 10–15 cm. Một bài khác trên trang của Blum lại ghi 15–20 cm, nên đứng thử ở vài mặt bàn có sẵn trong nhà để biết mình thích thấp hay cao.

Khi chưa đo được người dùng, có thể ước tính từ chiều cao trung bình. Theo Tổng điều tra dinh dưỡng 2019–2020 do Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế) công bố, thanh niên nam cao trung bình 168,1 cm, nữ 156,2 cm. Một khảo sát 2.582 nhân viên y tế ở Đắk Lắk năm 2022 cho số gần như vậy: nam 166,4 cm, nữ 155,6 cm.

Nghiên cứu Malaysia vẫn dùng được theo cách khác. Trong nhóm được đo, khuỷu tay của nữ cao 96,2 cm trên chiều cao 155,7 cm, của nam 103,7 cm trên 168,1 cm, tức khuỷu tay nằm ở khoảng 0,62 chiều cao người. Chiều cao của nhóm này gần bằng số trung bình của người Việt, nên lấy tỷ lệ đó nhân với số của Tổng điều tra, khuỷu tay của nữ ước tính khoảng 96,5 cm, của nam khoảng 103,7 cm. Đó là ước tính của bài này, chưa phải số đo đã công bố.

Chiều cao khuỷu tay ước tính từ chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam (Tổng điều tra dinh dưỡng 2019–2020) nhân với tỷ lệ khuỷu tay trên chiều cao đo ở Malaysia. Trừ 10–15 cm, mặt bếp hợp với nữ rơi vào khoảng 81,5–86,5 cm, phần lớn thấp hơn mức 85 cm thấp nhất của EN 1116; với nam là khoảng 88,7–93,7 cm. Đây là ước tính của bài, không phải số đo người Việt đã công bố.

Trừ 10–15 cm, mặt bếp hợp với một phụ nữ cao trung bình rơi vào khoảng 81,5–86,5 cm, gần khít mức 81–86 cm của các xưởng trong nước. Với một người nam cao trung bình, khoảng hợp là 88,7–93,7 cm, quanh mức 900 mm của EN 1116. Nhà có hai người nấu chênh nhau nhiều thì chọn theo người nấu nhiều hơn. Hướng dẫn của Hiệp hội Bếp và Phòng tắm Mỹ (NKBA) còn gợi ý làm hai độ cao trên cùng một bếp, một đoạn trong khoảng 711–914 mm, một đoạn trong khoảng 914–1.143 mm, khi nhà có người cần cả hai.

Chân tủ, thùng tủ và mặt bếp cộng lại

Chiều cao mặt bếp là chân tủ cộng thùng tủ cộng độ dày mặt bếp. EN 1116 yêu cầu phần chân (len chân) cao ít nhất 80 mm để còn lau được sàn dưới tủ. Tủ có bánh xe để di chuyển thì theo EN 14749, cao ít nhất 100 mm.

Ví dụ trong hướng dẫn lắp của B&Q: chân đặt sẵn ở 15 cm, chỉnh được trong khoảng 12,5–19,5 cm, thùng tủ cao 72 cm, mặt bếp dày 4 cm, cộng lại thành 91 cm. Muốn mặt bếp 84 cm với cùng thùng 72 cm và mặt dày 4 cm thì chân chỉ còn 8 cm, đúng mức tối thiểu của EN 1116. Thấp hơn nữa thì phải cắt thấp thùng tủ, không hạ chân được.

Cận cảnh góc đáy một thùng tủ bếp màu trắng đặt nghiêng trên tấm bìa carton. Hai chân nhựa đen bắt vào đáy tủ bằng đế chữ nhật: một chân to hình trụ có vành tròn ở đầu, một chân nhỏ hơn. Thân chân có hai đoạn lồng vào nhau để vặn nâng hạ.
Chân nhựa chỉnh cao bắt dưới đáy thùng tủ dưới. Vặn chân là nâng hạ được cả thùng tủ, nên chiều cao chân cùng với thùng tủ và mặt bếp quyết định mặt bếp nằm ở đâu. Tủ trong ảnh là hệ tủ IKEA Sektion, không phải tủ KES. Ảnh: Stilfehler, Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0.
Chân một góc tủ bếp chữ U, mặt cánh và ngăn kéo màu xám nhạt không tay nắm. Dưới cánh là tấm len chân màu xám sẫm chạy sát sàn lát gạch nâu, lùi vào sau mặt cánh một đoạn ngắn và gấp theo góc tủ.
Tấm len chân kẹp vào hàng chân tủ, lùi sau mặt cánh một đoạn ngắn. Khoảng cao này là phần chân tủ mà EN 1116 yêu cầu tối thiểu 80 mm. Tủ trong ảnh không phải tủ KES. Ảnh: Stilfehler, Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0.

Hạ thấp mặt bếp thì phải tính lại hốc cho thiết bị âm. EN 1116 cho hốc lắp máy âm dưới mặt bếp (máy rửa bát, lò) cao tối thiểu 820, 870 và 920 mm, ứng với ba mức mặt bếp. Máy làm theo tiêu chuẩn này tính sẵn hốc ít nhất 820 mm. Mặt bếp 81 cm với mặt đá dày 3–4 cm chỉ để lại khoảng 77–78 cm. Trước khi chốt mặt bếp thấp, đọc kích thước lắp của máy rửa bát hay lò định mua, rồi mới tính chân và thùng. Cách đặt chân và kẻ đường mốc ở công trình có trong bài lắp đặt tủ tại công trình.

Chiều sâu mặt bếp và tủ dưới

EN 1116 cho mặt bếp sâu tối thiểu 600 mm, vì thiết bị âm tủ như máy rửa bát, lò nướng, bếp từ được làm theo chiều sâu đó. Chiều sâu này đo từ mép trước đến mép sau của mặt bếp. Phần mặt bếp nhô ra trước mặt cánh tủ, tiêu chuẩn gọi là phần nhô, đo vuông góc từ mép trước mặt bếp vào mặt cánh.

Thùng tủ dưới vì vậy nông hơn mặt bếp một chút, phần còn lại là cánh và phần nhô. Bề mặt và cốt ván cho từng tấm tủ dưới, nhất là khoang chậu rửa, có trong bài tủ bếp gỗ công nghiệp nên dùng ván gì.

Tủ trên: khoảng hở và chiều sâu

Từ mặt bếp đến đáy tủ trên, EN 1116 yêu cầu ít nhất 450 mm. NKBA dùng một mức khác, 381 mm (15 inch): mặt bếp có ít nhất ngần ấy khoảng trống phía trên thì mới tính là mặt làm việc. Hai mức này đo hai việc khác nhau; bản vẽ theo EN thì lấy 450 mm làm sàn. Bếp ở Việt Nam thường để 600–700 mm, rộng hơn nhiều so với mức tối thiểu, và các trang thiết kế giải thích đó là khoảng an toàn cho máy hút mùi và cho việc nấu.

Chiều sâu tủ trên được EN 1116 giới hạn cả hai đầu: tối thiểu 310 mm để chứa vừa bát đĩa, tối đa 400 mm để tủ không chắn đầu người đứng trước mặt bếp sâu 600 mm. Khoảng cách từ bếp nấu đến máy hút mùi thì EN 1116 không cho số, mà để hãng bếp và hãng máy hút mùi quy định. Treo máy hút mùi theo tài liệu lắp của chính máy đó.

Còn chiều cao: khi tính lượng chỗ cất đồ, NKBA không xếp phần tủ cao hơn 2.134 mm tính từ sàn vào tủ trên hay tủ dưới, mà vào nhóm "khác". Tầm đó phần lớn người dùng phải bắc ghế. Tủ trên kịch trần vẫn đáng làm, miễn là tầng trên cùng dành cho đồ dùng vài lần một năm.

Tủ cao: tủ lạnh, tủ lò, tủ đồ khô

Tủ cao là tủ đứng từ sàn lên gần trần: hốc tủ lạnh, tủ lò và lò vi sóng xếp chồng, tủ đồ khô. Theo NKBA, một khối cao hết chiều cao và hết chiều sâu như vậy không nên đứng chen giữa hai trong ba chỗ làm việc chính. Tủ cao ở góc, lùi vào đúng cách, thì không cản. Vì vậy tủ cao hay được xếp ở đầu dãy, sát tường bên, để mặt bếp chạy liền một đoạn dài. Tủ cao tự đứng được nhưng vẫn phải bắt vào tường chống đổ, cách làm có trong bài lắp đặt đã nhắc ở trên.

Tam giác bếp và các khu làm việc

Tam giác bếp nối ba chỗ làm việc chính: bếp nấu, chậu rửa và tủ lạnh. NKBA khuyên mỗi cạnh dài 1,2–2,7 m và tổng ba cạnh không quá 7,9 m. Mỗi cạnh đo từ điểm giữa mặt trước của thiết bị hay chậu. Đảo bếp hay bán đảo không được lấn vào một cạnh quá 305 mm, và lối đi lại trong nhà không nên cắt ngang tam giác.

Một bếp hai dãy đủ các mức của NKBA và Blum: chậu và bếp nấu chung một dãy, giữa là mặt làm việc chính; tủ lạnh ở dãy đối diện; lối đi giữa hai dãy rộng hơn 1.067 mm. Bố trí trong hình là ví dụ, vẽ theo tỷ lệ.

Blum chia bếp thành năm khu theo việc: đồ ăn dự trữ, bát đĩa và dụng cụ, rửa, sơ chế, nấu. Người thuận tay phải xếp các khu theo chiều kim đồng hồ, người thuận tay trái thì ngược lại. Giữa chậu rửa và bếp nấu nên có một đoạn mặt làm việc chính dài ít nhất 900 mm để sơ chế. Bản tóm tắt năm 2024 của hướng dẫn NKBA (lần xuất bản thứ tư) không còn nhắc tới tam giác, mà tính khoảng trống đứng làm việc ở từng chỗ làm việc.

Tam giác dùng để kiểm tra quãng đi, còn năm khu kiểm tra thứ tự việc. Một bếp chữ I vẫn đạt cả hai nếu tủ lạnh ở một đầu, chậu ở giữa và bếp nấu ở đầu kia, với đoạn mặt bếp trống giữa chậu và bếp.

Lối đi giữa hai dãy tủ

Với bếp hai dãy song song, bếp chữ U hay bếp có đảo, NKBA khuyên lối đi làm việc rộng ít nhất 1.067 mm cho một người nấu và 1.219 mm khi có hai người nấu trở lên. Khoảng này đo giữa mép mặt bếp, mặt tủ cao hay mặt thiết bị đối diện, không đo giữa hai bức tường. Lối chỉ để đi qua, không đứng làm việc, thì rộng ít nhất 914 mm.

Một bếp hai dãy hẹp dưới mái dốc. Dãy bên trái có tủ lạnh inox ở đầu, tiếp theo là bếp nấu có lò, chậu rửa, máy rửa bát và tủ dưới màu trắng. Dãy bên phải là một mặt bếp trắng dài, phía trên có tủ treo. Lối đi lát sàn gỗ chạy giữa hai dãy tới cửa ra vườn.
Một bếp hai dãy: tủ lạnh, bếp nấu và chậu cùng một dãy, dãy đối diện là mặt bếp và tủ treo. Lối đi giữa hai dãy là khoảng NKBA đo để kiểm tra mức 1.067 mm. Ở bếp này, giữa bếp nấu và chậu chỉ còn một đoạn mặt bếp ngắn. Ảnh: John Coley (LakeMartinVoice), Flickr, CC BY 2.0.

Lối đi hẹp thì cánh máy rửa bát hay ngăn kéo mở ra là chắn gần hết lối. Bản tóm tắt năm 2024 của NKBA dùng một mức rộng hơn: chỗ đứng làm việc trước mỗi khu nên rộng 1.220–1.320 mm, đo từ mép mặt bếp, vật cản hay tay nắm thiết bị. Con số 1,2–1,5 m cho bếp hai dãy hay gặp trên các trang trong nước nằm gần mức mới này.

Câu hỏi thường gặp

Người cao 1m50 nên làm mặt bếp cao bao nhiêu?

Đo khuỷu tay rồi trừ 10–15 cm là chắc nhất. Theo tỷ lệ khoảng 0,62 ở trên, người cao 1m50 có khuỷu tay quanh 93 cm, nên mặt bếp khoảng 78–83 cm là mức đáng đem ra thử. Mức này thấp hơn cả ba mức của EN 1116, nên phải kiểm tra hốc thiết bị âm tủ.

Khoảng cách giữa tủ bếp trên và tủ bếp dưới là bao nhiêu?

EN 1116 yêu cầu ít nhất 450 mm từ mặt bếp đến đáy tủ trên. Các bếp ở Việt Nam thường để 600–700 mm. Phía trên bếp nấu, khoảng cách theo tài liệu lắp của máy hút mùi.

Tam giác bếp có bắt buộc không?

Không. Đó là một khuyến nghị của NKBA để kiểm tra quãng đi giữa chậu, bếp nấu và tủ lạnh. Bếp nhỏ một dãy hay bếp có đảo có thể bố trí theo khu làm việc, miễn là giữa chậu và bếp có mặt bếp trống đủ dài.

Ván để đóng thùng và cánh tủ có trong mục ván phủ và cốt ván MDF. Bản lề ở mục Bản lề, ray ngăn kéo và các phụ kiện khác ở mục Phụ kiện.

Nguồn tham khảo

  1. CATAS (Andrea Giavon), UNI EN 1116:2018 Coordinating sizes for kitchen furniture and kitchen appliances (2018)
  2. CEN, prEN 1116:2016 Kitchen furniture, coordinating sizes (bản xem trước)
  3. NKBA, Kitchen Planning Guidelines (2022)
  4. NKBA, Kitchen & Bath Planning Guidelines, 4th ed., tóm tắt (2024)
  5. Blum, Tips for buying your kitchen (FO-186/1, 2023)
  6. Blum Inspirations, bài về chiều cao làm việc trong bếp
  7. AMK (Arbeitsgemeinschaft Die Moderne Küche), thông cáo Ergonomie in kleinen und großen Küchen
  8. Rahman và cộng sự, số đo nhân trắc của bốn nước châu Á, Sādhanā 43:10 (2018)
  9. Người Lao Động, công bố Tổng điều tra dinh dưỡng 2019–2020 của Viện Dinh dưỡng (2021)
  10. Đặng Thị Phương Duyên và cộng sự, nhân trắc nhân viên y tế Đắk Lắk, Tạp chí Y học Việt Nam 516(1) (2022)
  11. B&Q (Kingfisher), Kitchen installation guide

Đọc tiếp