Con vít bản lề lung lay trên cánh tủ, hay vít góc thùng lỏng dần sau vài lần tháo lắp, đều là chuyện lực giữ vít: con vít đã bắt vào ván thì phải kéo mạnh cỡ nào mới bật ra. Bảng thông số ván MDF thường ghi chỉ tiêu này ở hai dòng "Screw Holding", một cho mặt ván (Surface), một cho cạnh ván (Edge). Con số tính bằng N (niutơn); 1.050 N xấp xỉ sức nặng của 107 kg.
Bản lề, ray kéo, tay nắm đều cần vít giữ chắc, và cần nhất là các mối ghép thùng tủ bắt vít vào cạnh ván. Đây là phần 6 của chuyên đề đọc bảng thông số ván MDF, HDF.
Đo lực giữ vít bằng cách nào
Phép thử có tên EN 320. Để kết quả của các phòng thử so được với nhau, ai cũng phải dùng cùng một loại vít và cùng một cách bắt:
- Vít thép dài 38 mm, đường kính 4,2 mm, thân thẳng (không thuôn), ren hai đầu mối, bước ren 1,4 mm. Đây là cỡ số 8 theo ISO 1478.
- Khoan lỗ mồi trước, rồi bắt vít sâu 15 mm vào mặt ván và vào hai cạnh của mẫu.
- Máy kéo móc đầu vít, rút thẳng ra theo trục vít và ghi lại lực lớn nhất.

Cỡ vít và độ sâu bắt vít ảnh hưởng lớn đến kết quả. Còn chênh lệch nhỏ về dạng ren giữa các loại vít bán ngoài chợ thì gần như không đáng kể.
Vì vậy chỉ nên so lực giữ vít của hai loại ván khi cả hai được thử bằng cùng loại vít và cùng phương pháp. Con số trên bảng thông số cũng không phải lực giữ của một con vít bất kỳ mà thợ bắt vào ván ở xưởng; nó dùng để so tấm ván này với tấm ván khác.
Ván MDF giữ vít được bao nhiêu
Bảng thông số MDF/HDF năm 2024 của KES ghi lực giữ vít cho các mã MBR, MLF và HMR (MDF) như sau:
- Vít mặt, MDF KES dày >12–19 mm
- 1.050N
- Lực rút vít ra khỏi mặt ván theo EN 320.
- Vít cạnh, cùng tấm ván
- 850N
- Thấp hơn vít mặt khoảng 20%.
- Vít cạnh, mức tối thiểu TCVN 7753
- 650N
- Cho MDF dày trên 15 mm. Vít mặt tối thiểu 950 N.
Ván dày hơn (>19–30 mm) ghi 1.000 N cho vít mặt và vẫn 850 N cho vít cạnh. Như vậy MDF của KES ở cả hai dải độ dày đều cao hơn mức tối thiểu của TCVN 7753:2007.
Hiệp hội Ván châu Âu (EPF) cũng đưa ra một mức tham khảo cho xưởng đồ gỗ: khoảng 1.000 N cho vít mặt và 700–950 N cho vít cạnh. Đây là mức EPF coi là đáng quan tâm với người làm đồ nội thất, không phải mức bắt buộc.
Bảng so sánh đầy đủMở xem
| Nguồn | Vít mặt (N) | Vít cạnh (N) |
|---|---|---|
| KES MBR, MLF, HMR, dày >12–19 mm | 1.050 | 850 |
| KES MBR, MLF, HMR, dày >19–30 mm | 1.000 | 850 |
| KES HDF HBR, HMR, tấm 17 mm | 850 | 1.050 |
| TCVN 7753:2007, MDF dày trên 15 mm, tối thiểu | 950 | 650 |
| EPF, mức đáng quan tâm với xưởng đồ gỗ | 1.000 | 700–950 |
Khi đọc dòng này trên bảng KES:
- KES chỉ ghi lực giữ vít cho MDF dày trên 12 mm và cho HDF 17 mm. Các mã LBR, LMR, MBR-S và các tấm mỏng hơn ghi N/A, tức là không công bố. TCVN 7753:2007 cũng chỉ quy định chỉ tiêu này cho ván dày trên 15 mm.
- Tiêu chuẩn châu Âu EN 622-5 không đặt mức tối thiểu nào. Tiêu chuẩn này xếp lực giữ vít vào nhóm tính chất bổ sung, nhà sản xuất cung cấp khi được hỏi.
- Bảng HDF của KES ghi vít cạnh 1.050 N, cao hơn vít mặt 850 N. Điều này ngược với bảng MDF của chính KES và với các mức của TCVN, EPF.
Vì sao vít cạnh giữ kém hơn vít mặt
Ở mọi nguồn có số liệu cho MDF bên trên, vít cạnh đều có mức thấp hơn vít mặt, vì cấu tạo của tấm ván: MDF có hai lớp sát mặt ép rất chặt, còn phần ruột ở giữa xốp hơn (xem bài tỷ trọng ván MDF, HDF).
Vít bắt vào mặt phải đi xuyên qua lớp mặt đặc rồi mới vào ruột, nên ren bám được cả vào phần chắc nhất. Vít bắt vào cạnh thì nằm trọn trong ruột ván, thân vít chạy song song với mặt ván, và không có lớp đặc nào đỡ cho nó.
Lực rút vít phụ thuộc chủ yếu vào tỷ trọng trung bình của cả tấm ván. Liên kết nội, tức độ bám của các sợi gỗ ở ruột ván, thì phụ thuộc vào tỷ trọng của chính phần ruột. Vì vít cạnh nằm trọn trong ruột, EPF nhấn mạnh hai việc: khoan lỗ mồi đúng cỡ và giữ khoảng cách đến góc tấm (xem bên dưới). Chuyện ruột ván chống tách đến đâu, và những chỗ khác bám vào ruột như chốt cam hay lỗ khoan mù, có trong bài liên kết nội IB.
Chọn vít và khoan lỗ mồi cho MDF
Theo EPF, MDF giữ vít tốt ở cả mặt lẫn cạnh, miễn là bắt vít đúng cách:
- Loại vít: vít thân thẳng, ren hai đầu mối cho kết quả tốt nhất. Ren càng cao so với thân vít càng tốt, tức là đường kính ngoài của ren lớn hơn nhiều so với đường kính lõi (phần thân đặc bên trong).
- Bắt chi tiết mỏng vào MDF: dùng vít ren suốt đến sát đầu. Khi ghép tấm hoặc bắt chi tiết dày, có thể dùng vít có một đoạn thân trơn.
- Cỡ lỗ mồi: rộng hơn lỗ mồi dùng cho gỗ tự nhiên và ván dăm, bằng 85–95% đường kính lõi vít. Bắt vào cạnh ván mỏng thì cỡ lỗ mồi càng phải đúng.
- Độ sâu lỗ mồi: sâu hơn chỗ mũi vít dừng ít nhất 1 mm.
- Khoét nhẹ miệng lỗ để mặt ván quanh vít không bị đội lên.
Ví dụ, vít có đường kính lõi 2,8 mm thì lỗ mồi khoảng 2,4–2,7 mm theo quy tắc 85–95% của EPF. MEDITE ghi mức tối thiểu là 85% đường kính lõi vít.
EGGER đưa một quy tắc khác cho ván của họ: lỗ khoan nhỏ hơn đường kính ngoài của vít 1 mm. Hai cách tính không cho ra cùng một con số, nên hãy thử trên mẫu ván thừa trước khi khoan hàng loạt.
Vít cách mép và góc tấm bao xa
Ngoài lỗ mồi, vị trí con vít trên tấm cũng có quy tắc riêng:
- Vít bắt vào mặt ván: cách mép tấm ít nhất 12 mm và cách góc tấm ít nhất 25 mm.
- Vít bắt vào cạnh ván: cách góc tấm ít nhất 70 mm.
EPF ghi thêm rằng vị trí vít nên chọn theo chiều dày ván và cỡ vít. EGGER yêu cầu chừa lại ít nhất 3 mm vật liệu khi vít chạy song song với mép, hoặc song song với mặt trên, mặt dưới của tấm.
Câu hỏi thường gặp
Vít bắt vào cạnh MDF có chắc không?
EPF đánh giá MDF giữ vít tốt ở cả mặt và cạnh, với điều kiện khoan mồi đúng cỡ và giữ khoảng cách 70 mm đến góc tấm. Theo bảng KES, MDF dày 12–19 mm giữ vít cạnh 850 N trong phép thử EN 320, thấp hơn vít mặt 1.050 N.
Ván mỏng 9 mm có bắt vít cạnh được không?
Bảng KES và TCVN 7753 không công bố lực giữ vít cho ván mỏng như vậy. EPF ghi rằng lỗ mồi đúng cỡ càng quan trọng khi bắt vít vào cạnh ván mỏng.
Nguồn tham khảo
- KES Group, thông số MDF/HDF (2024)
- European Panel Federation, đánh giá tính chất MDF (EN 320)
- European Panel Federation, bắt vít vào MDF
- Bộ KH&CN, TCVN 7753:2007 Ván sợi, ván MDF
- CEN, EN 622-5:2009 Ván sợi, yêu cầu cho ván MDF
- MEDITE, phiếu kỹ thuật MEDITE PREMIER
- EGGER, hướng dẫn gia công ván trang trí và ván nền
- Wong và cộng sự, mặt cắt tỷ trọng và tính chất ván sợi, J Wood Sci 46 (2000)