Chuyên đề: Đọc bảng thông số ván MDF, HDFPhần 3/9

Độ ẩm ván gỗ công nghiệp: EN 322, độ ẩm cân bằng, cong vênh

Độ ẩm ván MDF, HDF đo theo EN 322, xuất xưởng 5–8% theo KES. Ván hút ẩm theo không khí nơi đặt, nên ảnh hưởng đến cong vênh, kích thước và chất lượng dán phủ.

Một kiện MDF nhận về giữa mùa nồm ở miền Bắc sẽ không giữ mãi con số độ ẩm in trên phiếu thông số. Con số đó, ở bảng KES giống nhau cho mọi độ dày, là lượng nước trong ván lúc rời nhà máy, tính bằng phần trăm so với chính tấm ván khi đã sấy khô hẳn. Về đến kho, ván bắt đầu đổi theo không khí quanh nó, cho tới khi hai bên bằng nhau.

Bài này đi từ cách đo, qua chuyện ván co dãn theo không khí, đến cách giữ ván phẳng khi dán phủ. Đây là phần 3 của chuyên đề đọc bảng thông số ván MDF, HDF.

Đo độ ẩm ván bằng cách nào

Cách đo chuẩn là cân mẫu, sấy khô rồi cân lại. Phần khối lượng mất đi là nước. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7756-3:2007 làm theo cùng nguyên tắc với EN 322.

Phần khối lượng mất đi khi sấy chính là nước. Độ ẩm tính trên khối lượng ván đã sấy khô, nên mẫu 21,60 g còn 20,00 g sau khi sấy có độ ẩm 8%.
  1. Cắt một mẫu ván, hình dạng nào cũng được, nặng ít nhất 20 g. Cân ngay sau khi cắt, chính xác đến 0,01 g.
  2. Cho mẫu vào tủ sấy ở 103 ± 2 °C.
  3. Sấy đến khi khối lượng không đổi nữa, tức là hai lần cân cách nhau 6 giờ chênh nhau không quá 0,1%.
  4. Tính độ ẩm: W = (khối lượng trước sấy − khối lượng sau sấy) × 100 / khối lượng sau sấy.

Phép tính chia cho khối lượng khô. Vì vậy độ ẩm 8% nghĩa là cứ 100 kg gỗ khô thì có thêm 8 kg nước.

Cách sấy nhanh mà EPF mô tảMở xem

Hiệp hội Ván châu Âu (EPF) còn mô tả một cách làm gọn hơn: sấy mẫu nhỏ ở 105 °C trong khoảng bốn giờ (mẫu lớn thì lâu hơn), rồi tính theo cùng công thức. Bài này theo phép thử chuẩn của EN 322 và TCVN 7756-3: sấy ở 103 ± 2 °C cho đến khi khối lượng không đổi.

Phép sấy mất nhiều giờ, nên ở xưởng người ta dùng máy đo. Máy đo độ ẩm gỗ loại điện trở, có hai kim áp vào ván, vẫn đo được MDF, với độ chính xác thường có của loại máy này. Nếu hãng máy có bảng hiệu chỉnh riêng cho MDF thì nên dùng bảng đó, kết quả sẽ sát hơn.

Một máy đo độ ẩm gỗ cầm tay màu vàng có hai kim nhỏ ở đầu máy, áp vào khối gỗ làm chân của một pallet; màn hình hiện chỉ số độ ẩm tính bằng phần trăm.
Máy đo loại điện trở: hai kim ở đầu máy áp vào gỗ, máy đọc ra độ ẩm. Số trên màn hình là của chân pallet trong ảnh, không phải của ván MDF. Ảnh: S. John, Elsterwerda, Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.

Độ ẩm ghi trên phiếu thông số là bao nhiêu

Mỗi tiêu chuẩn và mỗi nhà sản xuất ghi một khoảng hơi khác nhau:

Nguồn Độ ẩm
KES, mọi mã MDF, HDF 5,0–8,0%
EN 622-1, MDF khi xuất xưởng 4–11%
TCVN 7753:2007, ván MDF 8–12%
EPF, MDF khi sản xuất 8 ± 3%
MEDITE PREMIER, khi sản xuất 5–9%
EGGER MDF, khi giao hàng 6 ± 2%

Mức của KES nằm gọn trong khoảng EN 622-1 cho phép. So với TCVN 7753:2007 (8–12%), mức 5–8% của KES khô hơn, và hai khoảng chỉ chạm nhau ở đúng 8%. Chênh lệch đó chưa đủ để nói ván KES sai chuẩn. Hai tiêu chuẩn đặt khoảng khác nhau, và độ ẩm của ván sẽ đổi ngay khi ra khỏi kiện.

Ván hút và nhả hơi nước theo không khí

Ván để ngoài không khí luôn trao đổi hơi nước với không khí. Không khí ẩm thì ván hút thêm, không khí khô thì ván nhả bớt, cho đến khi hai bên cân bằng. Độ ẩm của ván lúc đó gọi là độ ẩm cân bằng. Nó tùy vào độ ẩm tương đối của không khí, tức là không khí đang chứa bao nhiêu hơi nước so với mức tối đa nó chứa được.

  • Không khí 35%, tức rất khô (phòng có sưởi, hoặc khí hậu nóng khô): MDF cân bằng ở khoảng 6%.
  • Không khí trung bình 50%: MDF giữ ở 7–9%.
  • Không khí 85%, tức rất ẩm (kho ẩm, nhà mới xây chưa khô): MDF lên khoảng 13%.

Một tấm ván để thoáng đạt cân bằng trong vài ngày. Tấm nằm giữa một chồng ván thì cần nhiều tuần. Gỗ tự nhiên trong cùng điều kiện hút nhiều hơn: ở không khí 85% và 21 °C, gỗ cân bằng ở khoảng 17,9%.

Ván ra xưởng ở 5,0–8,0%, gần mức MDF đạt khi không khí chỉ ẩm khoảng 35–50%. Không khí ở Việt Nam quanh năm ẩm hơn nhiều, nên ván để trong nhà không điều hòa sẽ hút thêm nước. Ở 85%, MDF lên khoảng 13%, gỗ tự nhiên lên 17,9%.

Ở Việt Nam, nhất là miền Bắc, không khí ẩm hơn nhiều so với điều kiện mà tiêu chuẩn châu Âu coi là khô. QCVN 02:2022/BXD ghi độ ẩm tương đối trung bình năm trên cả nước là 76–88%. Hà Nội trung bình 80,7%, thấp nhất 76,2% (tháng 12), cao nhất 84,7% (tháng 4). Thái Nguyên trung bình 81,6%, từ 76,6% đến 85,3%. Mùa nồm, từ tháng 2 đến tháng 4 ở vùng phía đông miền Bắc, có những đợt độ ẩm trên 95%. Trong khi đó, EN 622-5 gọi là điều kiện khô khi độ ẩm không khí chỉ vượt 65% vài tuần mỗi năm.

Vì vậy, ván ra xưởng ở 5–8%, đặt trong nhà không điều hòa ở miền Bắc, sẽ hút thêm nước theo thời gian. Hút thêm bao nhiêu thì tùy phòng có điều hòa hay không, có đóng kín hay không.

Độ ẩm đổi thì kích thước ván đổi

Mỗi khi độ ẩm của ván tăng hoặc giảm 1%, MDF dãn hoặc co khoảng 0,05% theo chiều dài và chiều rộng, và khoảng 0,35% theo chiều dày.

Lấy ví dụ một cánh tủ rộng 600 mm, dày 15 mm. Khi độ ẩm của ván tăng 5% (không khí đổi từ 35% lên 85%), cánh tủ rộng thêm khoảng 1,5 mm và dày thêm khoảng 0,3 mm. Gỗ tự nhiên, theo chiều ngang thớ, có thể dịch chuyển tới 0,5% cho mỗi 1% độ ẩm, nên MDF ổn định hơn nhiều.

Theo chiều dài, chiều rộng
0,05%
MDF dãn hoặc co chừng này khi độ ẩm ván đổi 1%.
Theo chiều dày
0,35%
Chiều dày đổi nhiều hơn hẳn chiều dài, chiều rộng.
Cánh tủ rộng 600 mm
1,5mm
Rộng thêm khi độ ẩm ván tăng 5%, từ không khí 35% lên 85%.

Khác với gỗ tự nhiên, khi MDF đã trương quá kích thước ban đầu vì độ ẩm cao, phần trương đó không co lại hết khi ván khô trở lại. Chỗ phồng ở cạnh ván hay quanh lỗ vít do hút ẩm thường là vĩnh viễn.

Vì sao ván cong vênh

Ván cong khi hai mặt hút ẩm không đều. Trường hợp hay gặp là tấm chỉ phủ một mặt bằng lớp chắn ẩm, mặt kia để trần. Khi không khí ẩm lên, hơi nước đi vào ván từ mặt sau không phủ. Mặt sau trương nhiều hơn mặt trước, và tấm cong thành lòng chảo, lõm về phía mặt phủ. Nếu lớp phủ cứng và co dãn khác ván, tấm có thể cong luôn, không phẳng lại được.

Tấm phủ một mặt hút ẩm qua mặt sau để trần. Mặt sau trương nhiều hơn, tấm cong lòng chảo về phía mặt phủ. Phủ hai mặt như nhau thì hai mặt hút ẩm đều, tấm giữ phẳng. Độ cong trong hình được vẽ lớn hơn thật để dễ thấy.

Độ ẩm lúc dán phủ và gia công

Độ ẩm của ván lúc ép phủ ảnh hưởng đến việc tấm ván có phẳng sau khi ép hay không. Khi ép melamine chu kỳ ngắn, MDF nên ở 6–9%. Khi dán veneer, MDF thường ở 8 ± 3% và veneer ở 8–12% (cả hai mức theo EPF). Trước khi dán phủ, nên để ván ổn định 48–72 giờ (hướng dẫn của EGGER).

Khi ván phải ở nơi ẩm lâu dài, hãy chọn loại chịu ẩm và xem chỉ tiêu trương nở, được giải thích trong bài trương nở chiều dày 24 giờ và MDF chống ẩm và MDF thường.

Câu hỏi thường gặp

Độ ẩm ván MDF bao nhiêu là đạt?

Lúc xuất xưởng, EN 622-1 cho phép 4–11%, TCVN 7753 quy định 8–12%, KES ghi 5–8%. Khi đem dùng, điều đáng quan tâm hơn là độ ẩm của ván có gần với độ ẩm cân bằng ở nơi lắp đặt hay không.

Máy đo độ ẩm gỗ có đo được ván MDF không?

Có. Theo EPF, máy đo loại điện trở dùng cho gỗ dùng được cho MDF, và chính xác hơn nếu có bảng hiệu chỉnh riêng cho MDF. Muốn chính xác nhất thì vẫn là phép sấy theo EN 322.

Ván bị ẩm rồi phơi khô có trở lại như cũ không?

Chiều dài, chiều rộng co lại theo độ ẩm. Nhưng theo CPA, phần đã trương quá kích thước ban đầu thì không hồi lại hoàn toàn.

Các mã ván nhắc đến có trong danh mục MDF và HDF. Bài tiếp theo của chuyên đề là độ bền liên kết nội IB.

Nguồn tham khảo

  1. KES Group, thông số MDF/HDF (2024)
  2. Bộ KH&CN, TCVN 7756-3:2007 Xác định độ ẩm
  3. Bộ KH&CN, TCVN 7753:2007 Ván sợi, ván MDF
  4. CEN, EN 622-1:2003 Ván sợi, yêu cầu chung (văn bản tiêu chuẩn có bản quyền, mua tại tổ chức tiêu chuẩn)
  5. European Panel Federation, kiểm soát độ ẩm MDF
  6. European Panel Federation, bốc xếp và lưu kho MDF
  7. European Panel Federation, đánh giá tính chất MDF
  8. European Panel Federation, MDF phủ melamine
  9. European Panel Federation, dán veneer lên MDF
  10. Composite Panel Association, bản tin kỹ thuật về ổn định kích thước (2023)
  11. MEDITE, phiếu kỹ thuật MEDITE PREMIER
  12. EGGER, phiếu kỹ thuật MDF
  13. EGGER, hướng dẫn kỹ thuật và bảo quản ván
  14. CEN, EN 622-5:2009 Ván sợi, yêu cầu cho ván MDF
  15. USDA Forest Products Laboratory, Wood Handbook (2010), bảng 4-2
  16. Bộ Xây dựng, QCVN 02:2022/BXD Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng

Đọc tiếp