Một tủ chậu rửa dùng được vài năm, mở cánh ra thì thấy tấm đáy phồng lên ở mép trước, lớp Melamine nứt theo đường chỉ. Dễ nghĩ ngay là thợ đã dùng ván thường. Có khi đúng vậy, nhưng một thùng tủ làm bằng ván lõi xanh vẫn có thể hỏng y như thế nếu ống xả rỉ nước xuống cạnh dưới suốt nhiều tuần. Bài này đặt bảng thông số MDF/HDF của KES cạnh tiêu chuẩn châu Âu EN 622-5 để xem HMR hơn MBR bao nhiêu, và chỗ nào thì không loại MDF nào nên dùng.
HMR, MBR và các mã MDF khác của KES
Bảng thông số MDF/HDF năm 2024 của KES liệt kê các dòng sau:
- MBR: MDF tiêu chuẩn, KES ghi là "Standard", dùng cho đồ nội thất ở chỗ khô.
- HMR: MDF chống ẩm, KES ghi là "Moisture Resistance". Trên trang HMR PLUS, KES giải nghĩa HMR là High Moisture Resistance.
- MLF: MDF "Latex Free", chung bảng cơ lý với MBR. Tiêu chuẩn bề mặt chung của KES cho phép tối đa 3 đốm latex trên mỗi m², mỗi đốm đường kính không quá 3 mm.
- LBR và MBR-S: hai dòng nhẹ hơn, tỷ trọng trong khoảng 660–700 kg/m³. KES mô tả LBR là ván sợi mật độ thấp, dùng khi cần tấm nhẹ.
- LMR: tỷ trọng giống LBR nhưng giới hạn trương nở thấp hơn. Bảng thông số không giải nghĩa chữ viết tắt này.
Trên web, KES còn có hai dòng chống ẩm là HMR-S (KES xếp vào nhóm chống ẩm tiêu chuẩn) và HMR PLUS (đạt CARB Phase 2 / EPA TSCA Title VI). Ván HDF cũng chia hai: HBR là loại thường, HMR là loại chống ẩm.
Keo và sáp làm ván chống ẩm, màu xanh thì không
MDF thường được ép bằng keo urea-formaldehyde (UF). Loại keo này chủ yếu dùng cho đồ trong nhà, vì hơi ẩm làm đứt các liên kết keo. Khi cần ván chịu nước tốt hơn mức keo UF đạt được, nhà máy pha thêm melamine vào keo (MUF). Ván MDF chịu ẩm được làm bằng cách nâng cấp keo UF như vậy hoặc dùng một loại keo chịu ẩm khác.
Sáp paraffin thì MDF thường cũng có: KES ghi Parafin trong thành phần ván MBR. Một lượng sáp nhỏ, 0,5–1%, làm nước thấm vào chậm hơn trong một thời gian ngắn, nhưng gần như không giúp gì trước hơi ẩm trong không khí và sự co giãn của ván khi trời nồm hay hanh. Sáp đỡ được lúc nước bắn vào, còn khi ván bị ngâm lâu thì sáp không giữ được.
Màu xanh là chất tạo màu nhà máy cho vào để phân biệt ván chống ẩm với ván thường. Hãng MEDITE ghi rõ màu xanh trên ván MR của họ chỉ để nhận diện, không ảnh hưởng đến tính năng. Thấy lõi xanh vẫn chưa kết luận được ván đạt cấp chống ẩm; con số cần xem là độ trương nở trên phiếu thông số.
"Chống ẩm" đo bằng độ trương nở
Chỉ số chính là độ trương nở chiều dày sau 24 giờ ngâm nước, thử theo EN 317. Người ta cắt mẫu từ ván trần chưa phủ, đo độ dày, ngâm ngập trong nước 24 giờ, đo lại rồi tính phần trăm dày thêm. Số càng nhỏ thì ván càng ít phồng. Cách làm phép thử này được kể kỹ hơn trong bài trương nở chiều dày 24 giờ.

EN 622-5 chia MDF thông dụng thành hai cấp: MDF cho điều kiện khô và MDF.H cho điều kiện ẩm. "Ẩm" ở đây là môi trường mà độ ẩm không khí vượt 85% không quá vài tuần mỗi năm. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7753:2007 cũng chia ván MDF theo điều kiện dùng khô và ẩm, và đặt ký hiệu MDF.H cho ván dùng trong điều kiện ẩm.
Phép thử thêm cho cấp MDF.HMở xem
Ngoài giới hạn trương nở 24 giờ, ván MDF.H trong EN 622-5 còn phải qua một trong hai phép thử: thử chu kỳ (ngâm nước, cấp đông, sấy theo EN 321) hoặc thử luộc. Bảng thông số KES chỉ ghi trương nở 24 giờ, không ghi kết quả hai phép thử này.
MBR và HMR theo bảng thông số KES
Độ trương nở chiều dày tối đa sau 24 giờ (%), theo dải độ dày:
| Độ dày (mm) | MBR | HMR | EN 622-5, MDF (khô) | EN 622-5, MDF.H (ẩm) |
|---|---|---|---|---|
| 2,5–4 | 35 | 30 | 35 | 30 |
| >4–6 | 30 | 18 | 30 | 18 |
| >6–9 | 17 | 12 | 17 | 12 |
| >9–12 | 15 | 10 | 15 | 10 |
| >12–19 | 12 | 8 | 12 | 8 |
| >19–30 | 10 | 7 | 10 | 7 |
Giới hạn của MBR trùng khớp với cấp MDF (khô), của HMR trùng với cấp MDF.H trong EN 622-5. Liên kết nội, độ bền uốn và mô đun đàn hồi của hai dòng cũng khớp với hai cấp này. Lấy tấm 17 mm làm thùng tủ, thuộc dải 12–19 mm:
- MBR dày 17 mm
- 12%
- Phồng tối đa sau 24 giờ ngâm, khoảng 2 mm.
- HMR dày 17 mm
- 8%
- Khoảng 1,4 mm, đúng mức MDF.H của EN 622-5.
- HMR dày 2,5–4 mm
- 30%
- Tấm hậu tủ mỏng vẫn được phép phồng nhiều.
Ở dải 12–19 mm, HMR còn có liên kết nội 0,75 N/mm² (MBR là 0,55) và độ bền uốn 24 N/mm² (MBR là 20). Tỷ trọng và lực giữ vít của hai dòng thì KES ghi như nhau: 1.050 N với vít bắt mặt, 850 N với vít bắt cạnh. Ván càng mỏng thì giới hạn càng rộng, như ô thứ ba ở trên cho thấy.
HMR PLUS được ghi trương nở ≤7–10% tùy độ dày. Catalogue Melamine Series 9 cho số chi tiết hơn với cốt HMR PLUS EPA GREEN: ≤11% ở dải 6–9 mm, ≤9% ở 9–12 mm, ≤7% ở 12–19 mm và ≤6% ở 19–30 mm, tức thấp hơn mức MDF.H ở các dải này. HDF HMR ghi ≤10% cho tấm 9 mm, ≤9% cho 12 mm, ≤8% cho 17 mm; HDF thường HBR ở ba độ dày đó là ≤16%, ≤14% và ≤10%.
MDF chống ẩm dùng ở đâu, chỗ nào phải tránh
Chống ẩm không phải chống nước. Chính trang sản phẩm HMR PLUS của KES ghi rằng ván không chống thấm hoàn toàn và sẽ hư nếu tiếp xúc trực tiếp với nước trong thời gian dài. MEDITE cũng viết ván MR dùng được trong bếp và nhà tắm, nhưng không dùng ngoài trời và nên tránh để ván bị ướt.
MDF chống ẩm hợp với:
- Thùng tủ bếp dưới, nhất là tủ chậu rửa.
- Tủ lavabo, kệ nhà tắm ở chỗ không bị nước xối thẳng vào.
- Tủ khu giặt, vách ốp gần bếp.
Những chỗ nước ngâm hoặc đọng lâu thì không nên dùng MDF, kể cả HMR: chân tủ chạm sàn nhà tắm ướt, vách khu tắm đứng, ngoài trời. Ở đó nên dùng ván WPB, loại cốt KES mô tả là làm từ nhựa PVC hoặc nhựa tổng hợp, không mục và không bị mối mọt. Plywood của KES ép bằng keo chịu nước, cũng dùng được cho vị trí ẩm.
Nước thường vào ván từ cạnh hở

Lớp Melamine hay Laminate chỉ bọc hai mặt ván. Nước vào lõi qua cạnh cắt chưa dán chỉ, lỗ khoan bản lề và chốt, mép khoét chậu rửa hay bếp. Ở tủ chậu rửa trong ví dụ đầu bài, nước rỉ từ ống xả đọng đúng ở cạnh dưới tấm đáy và cạnh dưới hai vách bên, những chỗ lúc làm tủ ít ai nhìn tới.
Plywood ướt rồi khô thì gần như về lại độ dày cũ, còn phần lớn ván làm từ dăm thì không. Với MDF, chỗ đã phồng không xẹp hẳn lại khi khô, nên một lần nước đọng lâu là đủ để lại vết phồng ở mép tủ.
Mấy việc ở xưởng làm giảm đường nước vào:
Câu hỏi thường gặp
MDF chống ẩm có chống nước không?
Không. MDF chống ẩm chỉ phồng ít hơn MDF thường khi gặp ẩm. Ngâm lâu thì ván vẫn phồng, và chỗ đã phồng không trở lại như cũ.
MDF lõi xanh có phải lúc nào cũng là ván chống ẩm?
Không chắc. Màu xanh chỉ là dấu nhận diện của nhà máy. Muốn biết ván có đạt cấp chống ẩm hay không, cần xem độ trương nở 24 giờ trên phiếu thông số và so với cấp MDF.H.
HMR là gì?
HMR là mã KES dùng cho ván chống ẩm (High Moisture Resistance), có cả HMR cho MDF và HMR cho HDF. Các dòng MDF chống ẩm trên web KES gồm HMR-S và HMR PLUS.
MDF thường trương nở 25–30% có đúng không?
Chỉ đúng với ván mỏng. Theo bảng của KES, MBR mỏng 2,5–4 mm được phép trương tới 35%, loại 4–6 mm tới 30%, còn tấm 9–12 mm chỉ ≤15% và tấm 17 mm ≤12%.
Danh mục có 8 sản phẩm MDF, gồm HMR, HMR-S, HMR PLUS và MBR. Xem tại MDF. Phần HDF có 2 sản phẩm, trong đó có HDF HMR. Để chọn cốt cho từng phần của tủ, xem chọn cốt ván MDF, HDF, ván dăm hay plywood và tủ bếp gỗ công nghiệp nên chọn ván gì. Về phát thải formaldehyde, xem tiêu chuẩn formaldehyde E0, E1, CARB P2.
Nguồn tham khảo
- KES Group, thông số MDF/HDF (2024)
- KES Group, Ván MDF chống ẩm HMR PLUS
- KES Group, Ván MDF MBR
- KES Group, Ván MDF LBR
- KES Group, Ván HDF chống ẩm HMR
- KES Group, catalogue Melamine Series 9
- KES Group, Ván WPB
- KES Group, Ván Plywood
- CEN, EN 622-5:2009 Ván sợi, yêu cầu cho ván MDF
- Bộ KH&CN, TCVN 7753:2007 Ván sợi, ván MDF
- European Panel Federation, MDF chịu ẩm
- USDA Forest Products Laboratory, Wood Handbook chương 11
- MEDITE, phiếu kỹ thuật MEDITE MR
- MEDITE, câu hỏi thường gặp MEDITE MR
- EGGER, hướng dẫn trám kín mặt bàn