Chuyên đề: Từ rừng trồng đến tấm vánPhần 1/5

Gỗ rừng trồng làm ván: keo, bạch đàn, cao su

Gỗ làm ván MDF và ván dăm ở Việt Nam đến từ rừng trồng keo, bạch đàn và cao su: chu kỳ chặt, vì sao phần lớn thành dăm gỗ, và cành ngọn đi đâu.

Người trồng keo ở Việt Nam thường không chờ cây lớn. Theo ước tính của Forest Trends, khoảng 80% chủ rừng bán khi cây mới 5 tuổi. Gỗ chặt ở tuổi đó đủ để băm thành dăm, chưa đủ để xẻ ván, và cách bán ấy quyết định gần hết những gì xảy ra với gỗ về sau, kể cả tấm ván MDF trong tủ.

Đây là bài đầu của chuyên đề từ rừng trồng đến tấm ván và dừng ở khâu trước nhà máy: loại cây nào, trồng bao lâu, chặt xong thì thân, ngọn và cành đi những đường nào. Các bài sau theo gỗ vào nhà máy.

Gỗ làm ván đến từ rừng trồng

Cuối năm 2024, Việt Nam có 4.740.350 ha rừng trồng, trong đó 4.009.895 ha là rừng sản xuất, theo công bố hiện trạng rừng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Quyết định 561/QĐ-BNNMT). Rừng tự nhiên thì từ năm 2017 đã đóng cửa khai thác theo Chỉ thị 13-CT/TW, và Kết luận 61-KL/TW (2023) giữ hướng đó. Theo Báo Chính phủ, rừng trồng cung cấp 75% gỗ cho chế biến xuất khẩu.

Rừng bạch đàn trồng thành hàng, thân thẳng, mảnh và cao, cành lá chỉ tập trung ở phần ngọn, dưới tán là nền đất trống.
Rừng bạch đàn trồng ở Việt Nam. Loài trong ảnh là Eucalyptus camaldulensis, không phải loài bạch đàn trồng nhiều nhất làm nguyên liệu ván, nhưng dáng rừng thì giống: thân thẳng, mảnh, trồng dày. Ảnh: Forestry and Forest Products, CSIRO (ScienceImage 530), CC BY 3.0.
Vườn cao su ở Việt Nam, những hàng cây thân xám phủ rêu, tán xanh liền nhau, mặt đất phủ cỏ.
Vườn cao su ở Việt Nam. Cây được trồng để lấy mủ trong nhiều năm, khi hết thời kỳ cho mủ mới được chặt, lúc đó thân gỗ đi vào chuỗi cung ứng gỗ. Ảnh: Dinkum (Wikimedia Commons, 2009), CC0.

Vì vậy khi nói gỗ làm ván, thực tế là nói ba nhóm cây. Hai nhóm trồng riêng để lấy gỗ: keo và bạch đàn, mọc nhanh, thân thẳng, trồng dày thành lô. Nhóm thứ ba là cây cao su, trồng để lấy mủ, hết thời kỳ lấy mủ mới thành gỗ.

Keo, bạch đàn và cao su

Keo là tên gọi chung của nhiều loài Acacia trồng ở Việt Nam, gồm keo tai tượng (A. mangium), keo lá tràm (A. auriculiformis) và keo lai giữa hai loài đó. Một loài bạch đàn trồng ở Việt Nam là E. urophylla.

Trong nguyên liệu của ngành dăm gỗ, keo chiếm khoảng 70%, bạch đàn 27% và tràm cừ 3%. Báo cáo giải thích: keo cho năng suất và chất lượng cao hơn, bạch đàn ít được trồng vì năng suất thấp, tràm cừ ít dùng vì gỗ kém.

Cả ba đều là gỗ nhẹ đến trung bình. Keo lai 5–8 tuổi nặng khoảng 473–539 kg/m³, bạch đàn E. urophylla khoảng 506–535 kg/m³, gỗ cao su khoảng 560–640 kg/m³. Khối lượng riêng của gỗ chưa phải của ván: ép thành MDF hay ván dăm thì tỷ trọng ván còn tùy lượng keo và độ nén, như bài tỷ trọng ván MDF, HDF giải thích.

Gỗ cao su đến từ một đường khác. Cây đứng ba mươi năm trở lên (PROSEA ghi 30–35 năm) để cạo mủ, sau đó cả vườn được chặt để trồng lại. Theo số liệu Tổng cục Lâm nghiệp mà Forest Trends dẫn, năm 2012 nguồn gỗ cao su thanh lý vào khoảng 2 triệu m³ mỗi năm. Đây là thân cây to, lấy được một lần cho mỗi vườn, và ngành đồ gỗ lẫn ngành ván cùng tìm đến.

Chu kỳ 5–7 năm và gỗ thân nhỏ

Chu kỳ rừng trồng keo và bạch đàn thường là 5–7 năm, trong khi cây cao su đứng gấp năm, sáu lần thế. Gỗ chặt non nên thân mảnh. Muốn có gỗ lớn để xẻ thì phải chờ lâu hơn, và Forest Trends ước tính chỉ khoảng 20% diện tích rừng trồng được giữ lại cho mục đích đó, chủ yếu ở những hộ khá giả hơn.

Rừng keo và bạch đàn lấy gỗ được chặt sau 5–7 năm, còn cây cao su đứng ba mươi năm trở lên để lấy mủ rồi mới thành gỗ. Cây chặt non thì thân nhỏ, và thân nhỏ đi vào dăm gỗ.

Nhà nước đặt hướng ngược lại: mục tiêu là có 1 triệu ha rừng trồng sản xuất gỗ lớn vào năm 2030. Nhưng phần lớn gỗ ngoài thị trường hôm nay vẫn là gỗ chặt non. Với ván sợi và ván dăm, đó là nguồn nguyên liệu quen thuộc: loại ván này làm từ gỗ băm nhỏ, không cần khúc gỗ dài thẳng như xẻ ván.

Một cây chặt xong đi đâu

Người thu mua chọn phần gốc, thân thẳng, đường kính từ 12 cm trở lên, bán cho xưởng làm đồ gỗ. Phần trên và các cây nhỏ hơn thành dăm. Cành và ngọn thì được sơ chế, bán làm củi đốt lò ở địa phương.

Khoảng 15–20% gỗ khai thác từ rừng trồng có thân từ 12 cm, đủ lớn để xẻ làm đồ gỗ. Phần còn lại, thân nhỏ, chủ yếu thành dăm, và khoảng 63% toàn bộ gỗ khai thác đi vào chế biến dăm. Số liệu khảo sát 2011–2012 của Forest Trends, không theo tỷ lệ cây.

Dăm gỗ là gỗ băm nhỏ thành mảnh cỡ vài centimet, dễ chở và dễ nghiền. Phần lớn dăm của Việt Nam đi xuất khẩu: năm 2024 xuất 18,3 triệu tấn, thu về 2,66 tỷ USD, riêng Trung Quốc nhận 11,97 triệu tấn và Nhật Bản 4,08 triệu tấn (số liệu HAWA). Chủ rừng bán gỗ nhỏ cho bên trả giá tốt hơn: nhà máy dăm xuất khẩu, nhà máy giấy hay nhà máy ván.

Cành, ngọn, lá và vỏ cũng có thị trường riêng làm chất đốt gia đình và đốt gạch, khoảng 1,2 triệu m³ mỗi năm theo ước tính của Forest Trends.

Gỗ nhỏ vào nhà máy ván

Ván sợi (MDF) và ván dăm xay gỗ thành sợi hoặc dăm rồi ép lại, nên nhận được cả gỗ thân nhỏ. Ở khâu nguyên liệu, đó là chỗ khác với xưởng xẻ, nơi mỗi khúc gỗ phải đủ lớn và đủ thẳng.

gỗ khai thác từ rừng trồng vào chế biến dăm
63%
Khảo sát 2011–2012 của Forest Trends. Phần 37% còn lại đi vào giấy, ván, đồ gỗ, xây dựng.
gỗ khai thác có thân từ 12 cm
15–20%
Cùng khảo sát. Dưới 12 cm chủ yếu làm dăm.
gỗ làm ván nhân tạo năm 2011
1,3triệu m³
Cho khoảng 650.000 m³ ván thành phẩm, chủ yếu từ rừng trồng (Forest Trends).

Cũng theo báo cáo đó, các nhà máy ván nhân tạo khi chạy hết công suất cần khoảng 4 triệu m³ gỗ mỗi năm, và nhiều nhà máy nằm xa vùng rừng. Nhà máy ván cạnh tranh nguyên liệu với nhà máy dăm và nhà máy giấy, nên giá gỗ nhỏ phụ thuộc cả vào những ngành đó.

Nhà máy KES dùng gỗ gì

KES ghi trên trang giới thiệu của mình rằng công ty ưu tiên dùng nguyên liệu từ rừng trồng. Trên sơ đồ chuỗi sản xuất trong tài liệu Factory Tour KES Group Miền Bắc 2026, dây chuyền MDF bắt đầu từ "Củi", rồi bóc vỏ, băm, nhà nghiền, tháp sấy, ép nóng và khu chà nhám. Sơ đồ không ghi loài cây.

Theo bài báo đó, nguyên liệu MDF của KES đều là gỗ rừng trồng, kể cả gỗ cao su và củi điều. Tài liệu KES trong kho dữ liệu của Nguyên Minh không nêu tỷ lệ từng loài, nên bài này không đưa con số nào về nguồn gỗ của KES. Đoạn đường tiếp theo của gỗ, từ bãi gỗ đến tấm MDF, thuộc bài quy trình sản xuất MDF của chuyên đề, còn chất keo dán sợi gỗ thuộc bài keo dán ván gỗ công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Ván MDF làm từ gỗ gì?

Từ gỗ rừng trồng, thường là keo và bạch đàn, nghiền thành sợi rồi ép với keo. Từng nhà máy dùng loài nào và tỷ lệ bao nhiêu thì tùy nhà máy, và hiếm khi được công bố.

Dùng gỗ rừng trồng có làm mất rừng không?

Gỗ làm ván trong nước không lấy từ rừng tự nhiên, vì rừng tự nhiên đã đóng cửa khai thác. Chứng chỉ quản lý rừng là chuyện riêng: đến tháng 10/2024 Việt Nam có khoảng 600.000 ha rừng được cấp chứng chỉ (khoảng 410.000 ha FSC và 183.000 ha PEFC/VFCS, theo Viện Thông tin KH&CN quốc gia), nhỏ hơn nhiều so với tổng diện tích rừng trồng. Một tấm ván có chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm hay không phải xem giấy tờ của chính lô ván đó.

Gỗ cao su khác gì gỗ keo khi làm ván?

Cây cao su thành gỗ sau khi hết thời kỳ lấy mủ, thân to hơn nhiều so với keo chặt ở tuổi 5–7, và nặng hơn một chút. Với ván sợi, thân cây đã được băm nhỏ nên khác biệt này nhạt đi.

Các loại cốt ván làm từ gỗ này có trong mục MDF, 8 mã. Cách chọn cốt cho từng loại tủ có trong bài chọn cốt ván MDF, HDF, ván dăm, plywood.

Nguồn tham khảo

  1. Forest Trends, Ngành công nghiệp dăm gỗ Việt Nam (2013)
  2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quyết định 561/QĐ-BNNMT về hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024
  3. HAWA, Báo cáo xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 2024, xu hướng 2025
  4. Kha và cộng sự, New Forests 43 (2012), khối lượng riêng gỗ keo
  5. Quang và cộng sự, New Forests 40 (2010), khối lượng riêng gỗ bạch đàn
  6. PROSEA, Hevea brasiliensis (gỗ cao su)
  7. Báo Chính phủ, Đóng cửa rừng tự nhiên thúc đẩy kinh tế từ rừng
  8. Báo Chính phủ, Phấn đấu rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt 1 triệu ha
  9. Viện Thông tin KH&CN quốc gia, Phấn đấu đạt một triệu héc ta rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững
  10. Báo Tin Tức, Cận cảnh quy trình sản xuất ván MDF của nhà máy KES (12/2023)
  11. KES Group, Factory Tour KES Group Miền Bắc 2026, trang 8

Đọc tiếp